Hội thảo khoa học “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”

Trường Đại học Đồng Tháp vừa tổ chức thành công Hội thảo khoa học “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”.

Thạc sĩ Trần Thanh Hà, Trưởng phòng Xúc tiến

Đầu tư Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư

Đồng Tháp phát biểu tham luận

Hội thảo có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý, nhà giáo; lãnh đạo các trường: Đại học Huế, Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp, Trường Cao đẳng Nghề Đồng Tháp, Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp; ban giám hiệu các trường THPT, THCS, Tiểu học, Mầm non và nhà trẻ; lãnh đạo các doanh nghiệp, công ty, ngân hàng trong và ngoài Tỉnh.

Các bài tham luận của các đại biểu đã chỉ rõ những bất cập trong công tác giáo dục và đào tạo của các trường đại học và cao đẳng cả nước trong thời gian qua; những hạn chế, yếu kém của sinh viên tốt nghiệp các trường đại học khi làm việc tại các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ… Từ đó, đề xuất nhiều giải pháp hữu ích, thiết thực và mang tính đột phá về công tác đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay.

Trong quá trình thảo luận, các đại biểu đặc biệt quan tâm: Để được xã hội chấp nhận, trong quá trình học tập, đòi hỏi sinh viên phải biết khắc phục khó khăn, tự học, tự vươn lên chiếm lĩnh tri thức khoa học, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, trở thành người có đủ đức, đủ tài phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Nội dung bài phát biểu

“NHÀ ĐẦU TƯ VÀ DOANH NGHIỆP KỲ VỌNG

GÌ Ở SINH VIÊN TỐT NGHIỆP?”

Trần Thanh Hà

Trưởng phòng Xúc tiến Đầu tư

Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Đồng Tháp

Điện thoại: 0913976405

(Slide 1)

Kính thưa quý vị!

Với tư cách của một người hiện đang công tác tại Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư của tỉnh Đồng Tháp là nơi thường xuyên có mối quan hệ với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà tuyển dụng lao động. Đồng thời là một giảng viên thỉnh giảng của Khoa Kinh tế trường Đại học Đồng Tháp tôi luôn rất quan tâm đến vấn đề đầu ra của các sinh viên tốt nghiệp. Từ những vấn đề hết sức cụ thể như việc đi thực tập hay tìm việc làm lúc ra trường của các em sinh viên mà tôi biết cho đến việc tuyển dụng, sử dụng lao động của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp mà tôi quen tôi cũng từng suy nghĩ nhiều về vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội. Và hôm nay khi được mời tham dự Hội thảo “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội” do trường Đại học Đồng Tháp tổ chức tôi rất phấn khởi và mong muốn được bày tỏ những suy nghĩ, những quan điểm của mình đối với chủ đề trên. Với góc độ của mình tôi muốn tìm hiểu, phân tích để chúng ta cùng nhau thấy rõ vấn đề nhà đầu tư, doanh nghiệp kỳ vọng gì ở sinh viên tốt nghiệp và chúng ta bao gồm nhà trường, cộng đồng doanh nghiệp cùng cầu nối là chính quyền có thể làm gì để đáp ứng kỳ vọng đó.

(Slide 2: các Slide liên quan tự chạy)

Kính thưa quý vị!

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào cộng đồng quốc tế về mọi mặt mà nhất là lĩnh vực kinh tế, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực đã, đang và sẽ luôn là một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Chắc không cần phải chứng minh nhiều vì hiện tượng có sự cách biệt quá lớn giữa cung và cầu về nhân lực, giữa đào tạo và sử dụng hay nói cách khác hơn là đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội là một thực trạng đã được các phương tiện truyền thông, các hội thảo khoa học nhắc đến không ít. Mặc dù quan điểm “đào tạo theo nhu cầu xã hội” là không mới, nó xuất hiện ít nhất cũng trên 15 năm nay nhưng đến giờ để trả lời cho những câu hỏi như: Đào tạo cái gì? Đào tạo thế nào? Đào tạo bao nhiêu? vẫn chưa có được những câu trả lời xác đáng nhất. Để trả lời tốt nhất cho các câu hỏi này tất nhiên phải căn cứ vào nhu cầu xã hội. Thế nhưng căn cứ vào nhu cầu hiện tại hay tương lai lại là vấn đề cần phải cân nhắc. Nếu hướng vào hiện tại, thấy nhu cầu thị trường lao động đang cần những ngành nghề gì thì tập trung đào tạo để đáp ứng. Tuy nhiên giữa nhu cầu thị trường và quá trình đào tạo của nhà trường có một độ trễ, nhiều khi đến lúc sinh viên tốt nghiệp thì ngành đào tạo nào đó đã trở nên không còn “hot” như cách đó vài năm nữa. Còn hướng vào tương lai thì lại lệ thuộc vào việc dự báo một cách chính xác nhu cầu xã hội. Ngoài vấn đề về ngành nghề, số lượng thì chất lượng đào tạo cũng quan trọng không kém. Không giải quyết tốt các vấn đề trên trong thực tế sẽ dễ dàng dẫn đến hiện tượng sinh viên tốt nghiệp thất nghiệp trong ngành nghề này nhưng lại bị thiếu cục bộ trong ngành nghề khác hoặc có những ngành nghề có nhiều sinh viên tốt nghiệp, nhu cầu thị trường cũng cần nhưng chất lượng đào tạo không đảm bảo, không đáp ứng được nhu cầu sử dụng, đào tại lại của nhà đầu tư và các doanh nghiệp. Do đó, theo tôi để có thể thực hiện tốt việc đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội thì bên cạnh mục tiêu cung cấp các kiến thức nền, những kỷ năng cứng, kỷ năng mềm phù hợp với từng loại nghề nghiệp, công việc, đảm bảo để người tốt nghiệp có khả năng làm việc ngay khi được tuyển dụng, giúp tiết kiệm chí phí và thời gian cho cơ quan tuyển dụng cũng như người lao động không phải đào tạo lại, trong giai đoạn hiện nay cần tập trung cho việc đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao cho các đơn vị tuyển dụng. Thường có hiện tượng là nhà đầu tư, doanh nghiệp yêu cầu chất lượng cao hơn so với chất lượng tốt nghiệp bình quân của nhà trường nên dù doanh nghiệp muốn tuyển nhiều nhưng không đủ người đạt yêu cầu cần tuyển. Mặc dù nhà trường đã có dự báo, song khi tiến hành đào tạo thì cả số lượng lao động mà thị trường cần và chất lượng lao động đã được nâng cao. Bên cạnh đó, cũng đã đến lúc phải quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo nhằm tăng khả năng cạnh tranh của lao động trong nước so với nguồn nhân lực từ nước ngoài chảy vào, làm giảm nhu cầu nhập khẩu lao động từ các nước của các đơn vị tuyển dụng trong nước. Do lao động trong nước không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng nên nhiều doanh nghiệp đã phải tìm đến những lao động nước ngoài (thường thấy khi tuyển các vị trí cấp cao như giám đốc, CEO, CFO…). Nhưng khi áp dụng đào tạo theo nhu cầu thì vấn đề này sẽ được giải quyết do lao động của ta sẽ được đào tạo theo đúng nhưng gì doanh nghiệp cần và được tiếp cận công nghệ mới một cách liên tục do đó sẽ nhanh chóng nâng cao tay nghề của bản thân. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam mở doanh nghiệp ngoài vấn đề tay nghề còn đòi hỏi sự thông thạo về ngoại ngữ và văn hóa của nước họ như Nhật Bản, Hàn Quốc.

(Slide 3: các Slide liên quan tự chạy)

Hiện nay theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục nhiều trường Đại học công bố chuẩn đầu ra tức là các tiêu chuẩn đạt được về thái độ, đạo đức nghề nghiệp, về năng lực chuyên môn, kiến thức cơ sở, kiến thức chuyên ngành, kỹ năng mềm, ngoại ngữ… Trong thực tế nếu trường nào khi đào tạo cũng đạt chuẩn đầu ra như đã công bố thì chắc sẽ không có vấn đề gì cần bàn về chất lượng tốt nghiệp và xã hội cũng sẽ không quá khắc khe đối với các sản phẩm đào tạo như vậy. Vấn đề theo tôi là thực chất đây chỉ là mục tiêu, là kỳ vọng mà nhà trường hướng đến đối với kết quả đào tạo của mình. Còn đạt hay không chuẩn đó cần phải có một phương pháp khách quan đánh giá đối với từng đối tượng. Mong muốn là một lẽ nhưng kết quả còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác mang tính khách quan như mặt bằng đầu vào của từng trường, từng khu vực, tính tích cực, tự giác học tập, rèn luyện của sinh viên cùng với điều kiện con người, cơ sở vật chất của cơ sở đào tạo.

Tôi còn nhớ lúc là sinh viên ở trường sư phạm, tôi có từng bài tự luận môn tâm lý giáo dục với đề bài: “Bình luận câu nói sau: Hãy cho tôi một đứa trẻ, tôi sẽ đào tạo nó thành bất cứ thứ gì anh muốn: tên cướp, nhà khoa học hay thương nhân.” Tôi đã vận dụng lý thuyết về sự phát triển nhân cách để bác bỏ câu nói trên. Vì rằng sự phát triển nhân cách của con người ít nhất phụ thuộc vào các yếu tố: Bẩm sinh, gia đình, cộng đồng, giáo dục và khuynh hướng của chính cá nhân đó. Trong đó yếu tố giáo dục của nhà trường cũng chỉ có một phần trong sự góp sức phát triển nhân cách con người mà năng lực là một trong những thành tố cấu thành. Tôi muốn nhắc điều này để thấy rằng nhà trường có vai trò như một chiếc nôi để ươm những mầm, chồi, cây non thành những cây có ích cho xã hội. Ngoài chiếc nôi đó vẫn hãy còn nhiều yếu tố khác. Và do đó tương quan giữa kỳ vọng, định hướng đào tạo với chất lượng vẫn còn rất nhiều điều cần phải quan tâm chiêm nghiệm và giải quyết.

(Slide 4: các Slide liên quan tự chạy)

Thực trạng chất lượng tốt nghiệp của sinh viên đại học nước ta nói chung hiện nay đang có những nét phổ biến như sau:

Thứ nhất, hiện gần như cả hệ thống giáo dục từ tiểu học, trung học mà hậu quả của nó tồn tại cho đến bậc đại học là chúng ta chưa thực hiện tốt câu nói tưởng đã quá quen thuộc: “học phải đi đôi với hành”. Học sinh, sinh viên ta thiếu thực hành nghiêm trọng. Từ đó dẫn đến tình trạng là học sinh, sinh viên nước ta nắm lý thuyết rất tốt nhưng khi áp dụng vào thực tiễn thì lại không biết vận dụng. Đây là điều mà hầu hết các nước trên thế giới đã nhận thức và chuyển hướng theo phương thức đào tạo gắn với thực tiễn. Tôi đã từng chứng kiến bạn tôi chủ một doanh nghiệp nhỏ than phiền khi thuê một kế toán mới tốt nghiệp đại học thì không biết báo cáo thuế hàng tháng, báo cáo không chính xác, không nắm vững luật thuế đến nỗi bị truy thu thuế hằng trăm triệu đồng trong khi vốn điều lệ của công ty còn ít hơn số đó. Đến khi nhờ một người kế toán khác có kinh nghiệm làm lại thì thực tế số thuế không cao đến như vậy. Hay tình trạng sinh viên tốt nghiệp khoa công nghệ thông tin lại rất lờ mờ với những lỗi sơ đẳng của máy tính, của phần mềm thông dụng. Sinh viên tốt nghiệp khoa ngoại ngữ khi tiếp xúc với người nước ngoài thì không nghe được nên cũng không nói được.

Thứ hai, lại vẫn phải nhắc đến vấn đề kỹ năng mềm, tôi chắc rằng một số lượng không nhỏ sinh viên khi tốt nghiệp rất kém trong giao tiếp, ngại phát biểu, trình bày ý tưởng, kế hoạch, không có tinh thần độc lập, sáng tạo. Trong thực tế, nhiều người sử dụng lao động rất ngán ngại khi phải sử dụng người lao động như vậy. Người ta hay gọi là người “sai đâu đánh đó” còn nếu không có chỉ dẫn rõ ràng thì không hoạt động được. Trong các kỹ năng mềm, kỹ năng tự học, tự tìm tòi giải quyết vấn đề cũng rất cần trong công việc thực tế. Không ai có đủ thời gian và kiên nhẫn để làm việc lâu dài với người mỗi chút mỗi chỉ được. Ngay từ trên ghế nhà trường, sinh viên cần phải từ bỏ thói quen học thụ động nghĩa là chỉ học những gì được dạy mà phải chủ động học, tìm học những gì mình cần. Điều kiện hỗ trợ cho việc đó trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ này cũng không phải là quá khó.

Thứ ba, những công cụ bổ trợ cho công việc về sau như tin học, ngoại ngữ thì quả thật cũng còn nhiều vấn đề đối với các tân cử nhân, tân kỹ sư… Khi nhận hồ sơ tuyển dụng hầu như sinh viên nào cũng có đầy đủ các bằng cấp này mà kết quả nhiều khi rất đẹp. Nhưng khi nhà tuyển dụng đi vào khảo sát chất lượng thực sự thì đành phải gạt bỏ nhiều sinh viên tốt nghiệp vì kết quả kém.

Thứ tư, tình trạng mất cân bằng trong cung cầu lao động cũng vẫn còn đang tiếp diễn. Những ngành như kế toán, ngân hàng hiện số lượng sinh viên đầu vào cũng còn rất đông trong khi chưa chắc những năm tới đây các ngành tiếp tục sử dụng nhiều nhân lực như trước đây. Sinh viên tốt nghiệp sư phạm hiện đang rất khó kiếm được nơi để giảng dạy. Trong khi nhiều ngành kinh tế đang cần nhân lực thì số lượng đào tạo lại không cao.

 

(Slide 5: các Slide liên quan tự chạy)

Có thể nói chính xác một điều là các trường Đại học Việt Nam đang liên kết rất kém đối với nhu cầu xã hội đối với chất lượng đào tạo của mình. Theo các cuộc điều tra do các hiệp hội thực hiện thì vẫn còn đến trên dưới 50% sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm đúng chuyên môn. Với một chương trình quá nặng về lý thuyết cùng với một số nguyên nhân khác về quản lý, về tầm nhìn, về tư duy, về triết lý giáo dục… đã dẫn đến hệ quả sinh viên được trang bị rất kém cho việc đi làm hoặc tiếp tục du học về sau này

(Nói thêm về kết quả khảo sát theo màn hình, các slide tự bấm)

(Bấm slide hiện logo các trường Đại học nước ngoài)

Việt Nam hiện cũng không có một trường Đại học nào có chất lượng được quốc tế công nhận như các quốc gia Đông Á và Đông Nam Á lân cận: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc.

(Slide 6: các Slide liên quan tự chạy)

 

Để khắc phục thực trạng này, theo tôi trước hết cần quan tâm đến việc tăng cường một cách có hiệu quả mối quan hệ hợp tác, phối hợp giữa chính quyền, nhà trường và các doanh nghiệp trong việc đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội. Bên cạnh vai trò xây dựng chính sách, pháp luật của nhà nước, thì nhà trường và doanh nghiệp cần có mối quan hệ sát sườn hơn nữa. Doanh nghiệp cần sẵn sàng cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực kể cả chất lượng và số lượng, sẵn sáng tạo điều kiện hỗ trợ nhà trường và sinh viên về cơ sở thực tập, bồi dưỡng giáo viên, chia sẻ chi phí, đào tạo nhân lực tại chỗ, thử nghiệm sản phẩm nghiên cứu, phối hợp phát triển mẫu mã sản phẩm, đổi mới công nghệ. Về phía nhà trường cần chủ động nắm bắt nhu cầu về lao động, bám sát hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, dự báo về sự phát triển của ngành nghề để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, cùng nhau thảo luận để đưa ra giải pháp đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của các doanh nghiệp để sao cho nguồn nhân lực không bị lãng phí. Sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ hạn chế tình trạng đào tạo xa rời với thực tiễn sản xuất, sinh viên được đào tạo đáp ứng được yêu cầu của xã hội và doanh nghiệp mà doanh nghiệp không phải tốn thêm chi phí đào tạo lại. Để mối quan hệ này ngày càng trở nên tốt đẹp hơn rất cần vai trò trung gian của chính quyền thông qua công tác dự báo nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, tạo điều kiện để hai bên gặp nhau và tạo điều kiện để hai bên phối hợp tốt hơn. Tại Singapore hàng năm, Chính phủ, doanh nghiệp và các trường Đại học đều ngồi lại với nhau để định hướng cho việc đào tạo theo nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp. Các trường Đại học Singapore đều có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp và chính các doanh nghiệp đóng góp một phần vốn vào việc xây dựng chương trình đào tạo của nhà trường. Tại Pháp, các trường Đại học có mối quan hệ gắn bó với bộ phận nhân sự của các doanh nghiệp để nắm bắt sau khi tốt nghiệp sinh viên của trường làm việc như thế nào, yếu mặt nào, cần bổ sung kiến thức, kỹ năng gì.

(Slide 7: các Slide liên quan tự chạy)

Kế đến đối với sinh viên, nhà trường cần tiếp tục quan tâm các hoạt động ngoại khóa nhằm nâng cao thái độ, nhận thức và bản lĩnh của sinh viên, hình thành và phát huy các kỹ năng mềm cần thiết mà trong đó theo tôi kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự học là rất quan trọng. Việc hỗ trợ sinh viên trong việc thực tập và tìm việc làm cần phải được quan tâm nhiều hơn, hiệu quả hơn thậm chí tốc độ hơn. Tôi cho rằng đã đến lúc cần quan tâm đến việc đào tạo phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động chất lượng cao và phục vụ cho nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam từ các nước không nói tiếng Anh như: Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…

Ngoài ra vai trò của các tổ chức trung gian như xúc tiến việc làm, xuất khẩu lao động, phát triển nguồn nhân lực cần được phát huy một cách gắn bó với nhà trường hơn nữa.

(Slide cuối cùng: Xin chân thành cảm ơn)

Trên đây là một số ý kiến cá nhân của tôi mang tính cách tham khảo với mong muốn trường Đại học Đồng Tháp nói riêng và các trường Đại học trong cả nước nói chung từng bước đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu tư, của doanh nghiệp đối với sản phẩm đào tạo của mình.

Những ý kiến này xuất phát từ lòng nhiệt tình và niềm phấn khởi được tham gia Hội thảo hôm nay, rất mong được sự chia sẽ của quý vị và thông cảm đối với những sai sót, hạn chế không thể khắc phục hết được trong bài tham luận này./.